Tuesday, 17/09/2019 - 09:16|
Chào mừng bạn đến với cổng thông tin điện tử của Trường Tiểu học Nghĩa Lập

Chuyên Đề Khối 1

                                                                                      CHUYÊN ĐỀ
                                  DẠY LUẬT CHÍNH TẢ TRONG MÔN TIẾNG VIỆT 1 CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC

                                

                                      Báo cáo : Phan Thị Quỳnh
                                      Minh họa: Dương Thị Hoa


I/ ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo đánh giá của Bộ GD-ĐT, việc học tiếng Việt lớp 1 Công nghệ giáo dục không chỉ giúp HS nắm chắc tri thức cơ bản về tiếng Việt và hình thành đồng thời các kĩ năng nghe - nói - đọc - viết một cách vững chắc mà học sinh luôn được tham gia các hoạt động học tập một cách chủ động, tự tin; thông qua việc làm, các thao tác học, các em tự tìm ra và chiếm lĩnh tri thức, được phát huy khả năng tư duy và năng lực tối ưu của mình. Đồng thời quá trình dạy học theo phương pháp Công nghệ giáo dục không chỉ giúp giáo viên nâng cao trình độ và năng lực nghiệp vụ sư phạm mà cách tổ chức dạy học theo quy trình công nghệ giúp giáo viên đổi mới phương pháp một cách triệt để.
 Một điểm khác với phương pháp dạy trước đây, khi áp dụng phương pháp dạy học Tiếng Việt lớp 1- CGD, Giáo viên không phải cầm tay học sinh tập viết, mà mỗi học sinh tự tư duy bài giảng. Quy trình dạy của giáo viên sẽ được tiến hành theo bốn bước đó là: nhận diện ngữ âm, tập viết, đọc và luật chính tả.
Trong chương trình Tiếng Việt 1-CGD. Luật chính tả là một phần kiến thức cơ bản và quan trọng. Cùng với việc học về cấu trúc ngữ âm của tiếng, luật chính tả góp phần xử lý triệt để mỗi quan hệ giữa âm và chữ. Nhờ vậy, giúp học sinh đọc thông, viết thạo nắm vững cấu trúc ngữ âm của tiếng, ghi nhớ bền vững và không bị tái mù
Có thể khẳng định, dạy luật chính tả là một phần kiến thức quan trọng dạy học Tiếng Việt 1- CGD. Học sinh nắm chắc luật chính tả theo CGD sẽ giúp các em học tốt Tiếng Việt 1 và là hành trang cơ bản để giúp các em tiếp thu và sử dụng Tiếng Việt sau này.
Để giúp cho học sinh ghi nhớ đầy đủ các nội dung của Luật chính tả trong chương trình Tiếng Việt 1- CGD là cả một quá trình khó khăn của giáo viên, vì qua thực tế giảng dạy  chúng tôi nhận thấy học sinh viết chính tả còn chậm, sai nhiều lỗi chủ yếu là những tiếng liên quan đến luật chính tả. Chính vì thế chúng tôi mạnh dạn  xây dựng chuyên đề “ Dạy luật chính tả trong môn Tiếng Việt 1- công nghệ giáo dục.
II/ THỰC TRẠNG: 
1/Thuận lợi
a/ Giáo viên

- Được Ban giám hiệu nhà trường quan tâm, giúp đỡ góp ý thường xuyên về phương pháp giảng dạy.
-Giáo viên nhiệt tình, có lòng yêu nghề mến trẻ, có tinh thần tự học, nghiên cứu tài liệu, học hỏi đồng nghiệp để nâng cao chất lượng giảng dạy.
- Giáo viên không phải soạn bài đã có sẵn thiết kế theo quy trình 4 việc 
b/ Học sinh
-100% học sinh được học 2 buổi/ ngày
-Học sinh đọc  kết hợp phân tích bằng tay khi viết chính tả.
-Học sinh đã được học các kiến thức về luật chính tả
c/ Phụ huynh 
-Đa số phụ huynh quan tâm đến việc học của con em mình
2/ Khó khăn
a/ Giáo viên

-Lựa chọn và sử dụng phương pháp dạy học theo hướng đổi mới chưa linh hoạt
b/ Học sinh
-Trình độ tiếp thu của các em không đồng đều, một số em viết còn chậm chưa theo kịp tốc độ của cả lớp
-Một số  học sinh chưa nắm chắc luật chính tả nên dẫn đến viết sai chính tả
c/ Phụ huynh
-Đa số phụ huynh không nắm được cách học theo Công nghệ giáo dục nên còn hướng dẫn cho các em đánh vần và viết theo  kiểu hiện hành.
IV/ BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
1/ Giáo viên cần nắm vững luật chính tả và quy trình viết chính tả trong chương trình Tiếng Việt 1- công nghệ giáo dục 
a. Luật chính tả

- Luật chính tả e, ê, i
- Luật chính tả âm đệm
- Luật chính tả về nguyên âm đôi
- Luật chính tả về phiên âm tiếng nước ngoài
- Luật chính tả viết hoa
- Luật chính tả ghi dấu thanh
- Luật chính tả theo nghĩa
- Một số trường hợp đặc biệt
b/ Quy trình viết chính tả
Bước 1: Học sinh nhắc lại
Bước 2: Học sinh phân tích
Bước 3: Học sinh viết bảng con
Bước 4: Học sinh đọc lại
2/ Lựa chọn phương pháp và hình thức dạy học
Để dạy tốt môn Tiếng Việt 1- công nghệ giáo dục phần luật chính tả có hiệu quả thì giáo viên cần vận dụng phù hợp các hình thức tổ chức dạy học trong từng tiết học một cách hiệu quả. Đồng thời, giáo viên sử dụng một số phương pháp dạy học như: Phương pháp làm mẫu, phương pháp phân tích mẫu, phương pháp hỏi đáp, kết hợp với với nhiều hình thức dạy học như cá nhân, nhóm, lớp… để thu hút sự chú ý của học sinh. Từ đó, các em mới tiếp thu tốt và khắc phục được những lỗi sai mà bản thân mắc phải.
Ví dụ:Tuần 4, tiết 1,2  Luật chính tả e, ê
-Ở việc 1: Giáo viên giới thiệu tiếng /ke/
-Yêu cầu phân tích tiếng/ke/
-Giáo viên yêu cầu học sinh viết bảng con tiếng /ke/
-Bước 1; Tạo tình huống
-Học sinh viết tiếng /ke/ lúc này có hai trường hợp xảy ra
-Trường hợp 1: Học sinh là /ke/
-Trường hợp 2; Học sinh viết là /ce/
-Bước 2 : giáo viên phân tích tình huống và đưa ra luật chính tả : Âm /c/ đứng trước âm e ta phải ghi bằng con chữ k(ca)
-Học sinh nhắc lại và ghi nhớ luật chính tả 
-Học sinh đọc cá nhân- bàn- nhóm- cả lớp theo 4 mức độ (T- N- N- T)
Ví dụ: Tuần 9 tiết 7,8
-Giáo viên viết lên bảng, yêu cầu học sinh đọc và phân tích tiếng ca/ki
-Học sinh phân tích cá nhân, nhóm 2. 
- Cùng một âm /cờ/ vì sao khi thì viết con chữ c, khi thì viết con chữ k ?
-Học sinh nhắc lại luật chính tả. Âm/cờ/ đứng trước âm /e/, /ê/ ,/i/ ta phải viết bằng con chữ k ( đọc là /ca/.
Học sinh nhắc lại nhiều lần theo 4 mức độ(T-N-N-T)
*Tương tự đọc và phân tích tiếng ga/ghi
-Học sinh phân tích cá nhân ga->/gờ/-/a/-/ga/
                                           Ghi->/gờ/-/i/-/ghi/
-Lúc này giáo viên đặt câu hỏi vì sao viết một âm/gờ/ lại có hai con chữ g/gh
-Học sinh nhắc lại luật chính tả : Âm/gờ/ đứng trước âm/e/,/ê/,/i/ phải viết bằng con chữ gh( đọc là gờ kép)
-Đọc và phân tích tiếng nga/nghê
-Học sinh đọc và phân tích
-Cùng một âm/ngờ/ sao lại viết hai con chữ khác nhau ?
-Học sinh lại nhắc lại luật chính tả. Âm /ngờ/ đứng trước âm /e/, /ê/, /i/ phải viết bằng con chữ ngh ( đọc là ngờ kép)
-Học sinh đọc nhiều lần theo 4 mức độ ( T-N-N-T)
   Trong quá trình học sinh đọc và phân tích giáo viên quan sát , theo dõi học sinh nào chưa nắm chắc và thuộc luật chính tả âm/c/ thì cho học sinh đó đọc nhiều lần và thực hành viết ra bảng con, nhằm giúp học sinh phân tích và viết đúng chính tả. 
3/ Phân loại đối tượng học sinh
a/ Đối với học sinh chưa đạt chuẩn kiến thức kĩ năng
   Trước hết giáo viên phải nắm chắc những học sinh này còn hay quên hoặc chưa nắm chắc phần luật chính tả nào thì ghi ra và cho học sinh nhắc nhiều lần về luật chính tả đó vào 15 phút đầu giờ, giờ ra chơi, giao cho học sinh trên chuẩn kèm, cho nhắc đi nhắc lại nhiều lần để các em nhớ lâu hơn. Giáo viên dành nhiều thời gian quan tâm đến các em yếu nhiều hơn trong tiết học, gọi đọc, phân tích những tiếng có luật chính tả, gọi lên bảng viết để kịp thời nắm bắt việc học của các em nhưng không gây áp lực mà giáo viên phải nhẹ nhàng với học sinh
Khi viết trong vở chính tả, giáo viên cũng giao bài vừa sức với học sinh. Đối với những học sinh viết chậm, chưa theo kịp tốc độ của lớp, chưa nắm chắc về luật chính tả thì giáo viên đến gần gợi ý để học sinh nhắc đi nhắc lại luật chính tả để viết đúng.
b/ Đối với học sinh đã đạt chuẩn trở lên
 Giáo viên đọc thong thả, rõ ràng, yêu cầu học sinh nêu luật chính tả của tiếng đó một lần và viết vào vở. 
Ví dụ : Khi dạy bài tuần 18 : Vần /uya/,/uyên/,/uyêt/
Trong khi đọc cho học sinh  viết chính tả bài : ‘Đà Lạt    học sinh viết từ : quyến luyến thì các em còn sai và nhầm lẫn giữa i  và y. Lúc này giáo viên dừng lại cho học sinh nêu luật chính tả âm/c/ trong tiếng /quyến/ và luật chính tả khi có âm đệm  đứng trước i thì viết là y.Tiếng /kì/học sinh đọc luật chính tả âm/cờ/
Ví dụ: Viết bài « Đà Lạt »
Một số học sinh có thói quen không viết hoa chữ đầu câu, tên địa danh. Muốn khắc phục lỗi này, trước khi viết bài giáo viên cho học sinh tìm tiếng, từ được viết hoa trong bài(Khi, Xa,  Đà Lạt ). Sau khi học sinh tìm giáo viên hỏi: Vì sao phải viết hoa ? Vì chữ đầu câu phải viết hoa, tên địa lí phải viết hoa chữ cái đầu của mỗi tiếng. Lúc này học sinh sẽ khắc sâu hơn luật chính tả  viết hoa chữ đầu câu, tên riêng. Đến khi viết bài các em nhớ viết hoa mà không viết thường.
4/ Tổ chức các hoạt động vui chơi lồng ghép
   Để các em ghi nhớ và khắc sâu kiến thức đã học, người giáo viên không chỉ nắm vững quy trình 4 việc trong sách thiết kế mà phải làm cho lớp học sôi nổi, học sinh thoải mái trong giờ học.
Vào đầu tiết, giữa tiết học hoặc cuối  tiết học giáo viên tổ chức cho học sinh hát hoặc chơi trò chơi để các em thoải mãi, quên đi mệt mỏi, thu hút sự chú ý và sự tập trung tốt nhất
Ví dụ:  Khi dạy bài nguyên âm đôi /iê/ giáo viên có thể sử dụng trò chơi “ Bắn tên” hoặc trò chơi “ thuyền ai” để học sinh tìm tiếng mới có nguyên âm đôi /iê/
Vì dụ : liên, chiện, tiên, yến, biệt, biển,…
Giáo viên thay đổi hình thức chơi,  lồng ghép một số trò chơi nhằm củng cố lại bài mà các em đang học để các em nhờ bài hơn và bước sang việc tiếp theo đạt hiệu quả.
5.  Hướng dẫn học sinh nắm chắc luật chính tả
* Luật viết hoa: Tiếng đầu câu, tên riêng
Ví dụ: Vạn Xuân, Bạch Đằng
* Luật chính tả  phiên âm tiếng nước ngoài
  Nghe thế nào viết thế ấy( như Tiếng Việt) giữa các tiếng trong một từ phải có dấu gạch nối.
Ví dụ: Pa- nô, pi- a- nô
* Luật chính tả ghi dấu thanh
  Viết dấu thanh ở âm chính của vần
Ví dụ:  bà, bá,…
* Luật chính tả về âm đệm 
*Âm /cờ/ trước âm đệm
Âm/ cờ/ đứng trước âm đệm phải viết bằng con chữ q (cu) âm đệm viết bằng con chữ u
Tiếng có âm đệm thì dấu thanh đặt ở âm chính
Ví dụ : loa, quỳnh,…
  Ở tiếng có âm cuối là bán nguyên âm (u, o, i, y) thì dấu thanh đặt ở âm chính.
Ví dụ: bào, mùi, …
*Luật chính tả về nguyên âm đôi
  Tiếng có nguyên âm đôi mà không có âm cuối thì dấu thanh được viết ở vị trí con chữ thứ nhất trong nguyên âm đôi.
Ví dụ: mía, múa,…
  Tiếng có nguyên âm đôi mà có âm cuối thì dấu thanh được viết ở vị trí con chữ thứ hai của nguyên âm đôi.
Ví dụ: miền, buồn,…
- Cách ghi nguyên âm đôi
          Dạy bài vần không có âm cuối: ua
- Nếu vần có âm cuối thì viết là: uô -> muôn
- Nếu vần không có âm cuối thì viết là: ua -> mua
          Dạy bài vần không có âm cuối: ia
- Nếu vần có âm cuối thì viết:  iê -> điện
- Nếu vần không có âm cuối thì viết là: ia -> mía
          Dạy bài vần không có âm cuối : ươ
- Nếu vần có âm cuối thì viết: ươ -> lươn
- Nếu vần không có âm cuối thì viết là: ưa -> mưa
* Luật chính tả e,ê,i
Âm/cờ/ đứng trước âm e, ê, i phải viết bằng con chữ k ( gọi là ca)
Âm /gờ/ đứng trước âm e, ê, i phải viết bằng con chữ gh ( gọi là gờ kép)
Âm /ngờ/ đứng trước âm e, ê, i phải viết bằng con chữ ngh ( gọi là ngờ kép)
*Luật ghi chữ “gì”ở đây có hai chữ đi liền nhau, khi viết phải bỏ i của chữ gi, thành gì
*Quy tắc chính tả khi viết âm i.
Tiếng chỉ có một âm i thì có tiếng viết bằng i ( i ngắn) có tiếng viết bằng y (y dài)
Ví dụ: Viết i nếu đó là từ Thuần Việt: (ì ầm)
Viết y nếu đó là từ Hán Việt : ( y tá )
Tiếng có âm đầu là âm i thì một số tiếng có thể viết y, hoặc i đều được. Khi có âm đệm đứng trước , âm i phải viết là y ( y dài):  Huy
*Luật chính tả theo nghĩa
Ví dụ : da thịt/ gia đình ( khi phát âm nghe gần như nhau, nhưng phải dùng hai con chữ khác nhau, tuy theo nghĩa) giáo viên cho học sinh phát âm tự nhiên để nhận ra âm( âm thanh- tiếng) nhưng bắt đầu chú ý đến nghĩa.
Với /da/ ( da thịt) viết chữ d
Với /gia/ (gia đình) viết chữ gi
   Khi dạy bài về luật chính tả gặp tình huống chính tả ở đâu giáo viên cần giúp học sinh xử lí triệt để ở đấy để làm rõ mỗi quan hệ âm và chữ. Những bài về luật chính tả giáo viên không nên giảng giải bằng lời nhiều mà nên chỉ trực tiếp trên ví dụ cụ thể ở từng bài học. Thường xuyên nhắc lại luật chính tả khi viết bằng cách hỏi học sinh trước khi viết, nhằm giúp học sinh ghi nhớ và khắc sâu hơn nội dung luật chính tả.
III. KẾT LUẬN: 
   Giáo viên thường xuyên tạo cơ hội cho học sinh được ôn luyện và ghi nhớ luật chính tả trong khi viết bài, vì chỉ thực hành sử dụng trong khi viết và được nhắc đi nhắc lại nhiều lần thì học sinh mới ghi nhớ sâu và khó quên.
Giáo viên cần vận dụng linh hoạt và phù hợp các hình thức tổ chức và phương pháp dạy học trong từng tiết học một cách hiệu quả nhất
Giáo viên dạy học nhẹ nhàng, tạo tâm lí vui tươi, thoải mái cho học sinh, luôn khuyến khích học sinh làm việc, không được làm thay học sinh. Phải biết chờ đợi, không nôn nóng.
IV. BÀI HỌC KINH NGHIỆM
    Một số em viết còn yếu, giáo viên cần sắp xếp chỗ ngồi cho phù hợp để tiện cho việc theo dõi, giúp đỡ uốn nắn kịp thời, dễ dàng hơn. Cho các em luyện đọc, viết nhiều lần đối với những chữ mà các em chưa đọc viết được, từ đó các em sẽ nắm bài chắc hơn. Đây là việc làm không phải một sớm một chiều đã có kết quả mà là việc làm lâu dài và thường xuyên.
   Luôn tìm tòi, sáng tạo phát hiện những cái mới, cái hay để vận dụng hoàn thiện phương pháp giảng dạy của mình.
   Trên đây là một số  biện pháp giúp học sinh lớp Một học tốt luật chính tả trong Tiếng Việt 1- công nghệ giáo dục mà chúng tôi đã và đang áp dụng trong quá trình giảng dạy của mình. Tuy nhiên, bước đầu cũng đã đem lại kết quả đáng khích lệ .Rất mong nhận được sự góp ý của Tổ chuyên môn, Ban giám hiệu nhà trường, các bạn đồng nghiệp để chuyên đề được hoàn thiện và mang lại hiệu quả cao.

                                                                                                                          Thạnh Mỹ, ngày 10 tháng 1 năm 2018
                                                                                                                                           Người viết

 

                                                                                                                                        Phan Thị Quỳnh

 

Tác giả: admin
Bài tin liên quan
Tin đọc nhiều
Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 1
Hôm qua : 3
Tháng 09 : 35
Năm 2019 : 1.005